Nhân dịp kỷ niệm 38 năm Ngày thành lập DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP, www.dungcudienchan.com đăng lại bài “Vài Nét Về Lịch Sử Của Môn Diện Chẩn – Điều Khiển Liệu Pháp Bùi Quốc Châu” do GS.TSKH. Bùi Quốc Châu viết năm 1991. Đây là một tư liệu rất quan trọng, cần thiết cho tất cả học viên HV cùng những người muốn nghiên cứu, tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển Diện Chẩn.(VP/TTVY ĐQT).

–o/o–

Trong lịch sử Y học Thế giới đã có một số phương pháp tương tự với DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP (FACY) nếu xét qua về mặt hình thức – vì nó dựa trên nguyên tắc phóng chiếu (Projection) – trong khi FACY dựa trên nguyên tắc PHẢN CHIẾU (REFLECTION) là một hình thức tương tự PHÓNG CHIẾU NHƯNG ĐA CHIỀU (MULTI – DIRECTION) TRONG KHI PHẢN CHIẾU CHỈ CÓ MỘT CHIỀU TRÊN MỘT MẶT PHẲNG DUY NHẤT. PHẢN CHIẾU (REFLECTION) CÓ THỂ GỌI LÀ PHẢN XẠ NHIỀU CHIỀU VÀ ĐA HỆ (MULTISYSTEM). DO ĐÓ NÓ CŨNG KHÁC PHẢN XẠ CỔ ĐIỂN LÀ PHẢN XẠ ĐƠN HỆ.
Các phương pháp đó là Vọng chẩn của Đông Y cổ truyền (Médecine Traditionnelle Orientale). Nhãn chẩn (L’Iriscopie) của Ignas Peczely (1980); phương pháp kích thích vùng bên trong mũi để trị bệnh (Réflexothérapie endonasale) của Bonnier (1930), cũng như của Asuero (1931), Diện châm (Faciopuncture), Tỵ châm (Nasopuncture) của Trung Y (Médecine Chinoise), Nhĩ châm (Ariculothérapie) của P.Nogier, Thủ châm (Manopuncture) và Túc châm (Podopuncture). Mỗi phương pháp trên đều có hình chiếu hoặc nhũng điểm tương ứng với các bộ phận của cơ thể, dùng để chẩn đoán hay trị bệnh.
Còn Diện chẩn – điều khiển liệu pháp (gọi tắt là DIỆN CHẨN hay FACY, ở Pháp hiện nay gọi tắt là PHẢN XẠ HỌC VÙNG MẶT, (Réflexologie faciale) đã hoàn toàn không phải là Vọng chẩn hay Diện châm cùa Trung Y vừa nêu trên. Trước hết vì đây là một phương pháp do người Việt Nam (tác giả Bùi Quốc Châu) tìm ra và xây dựng nên cách đây 38 năm (từ đầu năm 1980 tại Tp Hồ Chí Minh). Kế đến vì nó không bắt nguồn hay thừa kế từ Vọng chẩn, Diện châm hay Tỵ châm của Trung Y cũng như của khoa Châm cứu nói chung mà trái lại nó có xuất phát điểm từ những kinh nghiệm dân gian Việt Nam, từ nền văn hóa và triết học Đông phương, trong đó có ngôn ngữ Việt Nam, văn chương bình dân Việt Nam được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, phương ngôn và những câu nói dung tục (vulgaire) trong dân gian.

Thật vậy, chính từ những điểm phát xuất kể trên mà phương pháp DIỆN CHẨN (FACY) được hình thành. Việt Nam với 4000 năm văn hiến, những kinh nghiệm dân gian phong phú thuộc nhiều lĩnh vực, luôn được thể hiện dưới dạng văn chương bình dân, như ca dao, tục ngữ, chuyện tiếu lâm và cả trong văn chương bác học, ngôn ngữ học. Ngoài ra nó còn được thể hiện dưới dạng kinh nghiệm của quần chúng trên một số lĩnh vực nào đó, trong đó có Y học dân gian.

Ví dụ: Từ nhỏ tôi đã thấy người ta “bắt gió” hoặc dán hai lát gừng ở hai bên thái dương cho những người bị nhức đầu, “cạo gió” cho những người bị cảm, dán đuôi lá trầu vào huyệt Ấn đường (giữa hai đầu chân mày) cho em bé bị nấc cụt, giật tóc mai cho người bị xỉn tỉnh dậy (hoặc tạt nước lạnh vô mặt họ)… Khi lớn lên, tôi cũng thường nghe hoặc đọc thấy những câu tục ngữ như “trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo cỗ lòng mới ngon”, hay là “Trông mặt biết người” hoặc dung tục hơn “Mồm sao ngao vậy”, “Đa mi tất đa mao” (Chính câu chuyện này là cơ sở để tôi khám phá và xây dựng nên đồ hình phản chiếu bộ phận sinh dục nữ sau này. Nó cũng là điểm mốc để đoán các bệnh phụ khoa). Tôi cũng được biết trong dân chúng có người chỉ cần nhìn vào nốt ruồi hay tàn nhang trên mặt của một người nào đó, họ cũng có thể đoán biết được người kia có một nốt ruồi hay tàn nhang ở chỗ nào trong cơ thể.

Ngoài ra còn có nhiều người có tài xem tướng Mặt (Diện, tướng) có thể nhìn mặt một người mà đoán biết được vận hạn tốt xấu hay bệnh tật sắp xảy ra. Đôi khi họ chỉ cần nhìn vào Ngọa tàm (Mí mắt dưới) mà đoán biết được tình trạng con cái của người khác. Điều này đã giúp đỡ tôi rấy nhiều trong việc tìm ra và xây dựng Đồ hình buồng trứng (noãn sào) trên mặt một cách nhanh chóng và chính xác. Đối với tôi,những điều kể trên vô cùng quý báu. Nó chính là CHẤT XÁM CỦA QUẦN CHÚNG.Ông cha ta truyền lại từ đời này sang đời khác mà tôi chỉ là người biết kế thừa và khai thác vận dụng được TÚI KHÔN MUÔN ĐỜI này để xây dựng được phương pháp DIỆN CHẨN (FACY) ngày nay có ích lợi cho nhiều người, cho nên tôi rất trân trọng và yêu mến TÚI KHÔN đó.

Sau này tôi có nghiên cứu thêm về Tây Y thì được biết thêm nhiều điều rất hay, phù hợp với kinh nghiêm dân gian và tướng học. Thí dụ như: Hai quầng mắt thâm ở các ohụ nữ có vấn đề ở buồng trứng, hai má đỏ ở bệnh nhân lao phổi, bệnh yếu sinh lý thường gặp ở người bi viêm mũi dị ứng…Nhà bác học nổi tiếng ngưởi Pháp, Alexis Carrel cũng đã giúp tôi rất nhiều khi ông viết trong tác phẩm của ông “L’homme, cet inconnu”, các câu như “La figure est résumé du corps entier” (Tạm dịch: Bộ mặt là bảng tóm lược của toàn bộ thân thể)  và “Chaque home porte sur sa face la description de son corp et son âme” (Tạm dịch: Mỗi người mang trên bộ mặt của mình hình ảnh mô tả thân xác và tâm hồn mình). Phải chăng Đông Tây đã gặp nhau ở chỗ này?

Những điều vừa kể trên đã gợi ý cho tôi suy nghĩ nhiều về vai trò quan trọng của bộ mặt cũng như sự liên quan giữa BỘ MẶT và CƠ THỂ CON NGƯỜI. Rồi nhờ những kiến thức Đông Y, Châm cứu (trong đó phải kể đến công trình của các cụ Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đại Năng) và Tây Y, tôi biết được một cách rõ ràng và khoa học hơn những mối liên hệ giữa BỘ MẶT và CƠ THỂ, nhưng phải thật tình mà nói, chính nhờ Đồ hình BÀO THAI LỘN NGƯỢC trên loa tai cùa Nhĩ châm mà tôi đang áp dụng lúc bấy giờ đã gợi ý cho tôi cố gắng tìm ra ĐỒ HÌNH TƯƠNG TỰ NHƯ THẾ Ở TRÊN MẶT (Về điều này, tôi phải đặt biệt cảm ơn bác sĩ P.NOGIER).

Từ đó với niềm tin tưởng và quyết tâm, cộng với môi trường rất tốt cho việc nghiên cứu (nơi tôi đang làm việc lúc bấy giờ là Trung tâm Cai Ma Túy ở Bình Triệu -Thủ Đức) nay gọi là Trường Xây Dựng Thanh Niên mới, nơi thường xuyên có hàng ngàn bệnh nhân nghiện ma túy với đủ loại bệnh tật, đã giúp tôi có nhiều dịp quan sát các dấu vết bất thường trên mặt họ cũng như có điều kiện để châm từng mũi kim trên các huyệt ở MẶT để tìm hiểu sự liên quan giữa các điểm trên vùng MẶT với từng bộ phận của cơ thể, đồng thời đề xác minh cho các giả thuyết của mình về sau này.

Với sự say mê, kiên trì và làm việc nghiêm túc qua thời gian, dần dà tôi phát hiện ra những dầu mối quan hệ giữa những điểm trên MẶT và các khu vực với toàn thân. Nhưng có lẽ điều đặc biệt là tôi nghiên cứu khám phá ra những bí ẩn của BỘ MẶT theo một hướng khác với các tác giả có những công trình tương tự trước đây (như Nhĩ châm, Đầu châm,Thủ châm, Túc châm).

Ai cũng biết trong việc khám phá xây dựng và phát triển một phương pháp phản xạ như kiểu Nhĩ châm hay Túc châm, vấn đề khó nhất là tìm ra huyệt một cách chính xác và qua đó XÁC ĐỊNH VÙNG PHẢN XẠ MỘT CÁCH CÓ HỆ THỐNG NHẤT QUÁN (Unité). Như trên đã nói, tôi không xây dựng phương pháp bằng những kinh nghiệm lần mò hoặc có tính cách ngẫu nhiên. Trái lại DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP (FACY) xây dựng theo một hướng đã định trước dựa trên một phương pháp luận đã có ngay từ bước đầu. Thật vậy, những nguyên tắc tìm ra huyệt hay Đồ hình một cách chính xác và mau chóng đã được tôi khám phá và xây dựng từ những câu nói đơn giản của cổ nhân, chủ yếu trong lãnh vực Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học Đông phương và Việt Nam.

Ví dụ : thuyết BẤT THỐNG ĐIỂM (Théorie de POINT NON DOULOUREUX) đã được tôi dùng để tìm ra và xác định huyệt một cách vô cùng chính xác (hơn cả máy dò huyệt hiện đại) là do tôi vận dụng khai thác câu “Dương trung hữu Âm, Âm trung hữu Dương” (trong Dương có Âm, trong Âm có Dương) trong Dịch Kinh và Nội Kinh. Từ câu này tôi suy luận ra như sau : “Trong điểm (vùng) đau (dương) tất sẽ có điểm không đau (Âm)”.

Tất nhiên điều này thoạt tiên chỉ là giả thuyết, nhưng sau khi tôi đưa vào ứng dụng trên lâm sàng thì tôi thấy ngay kết quả hoàn toàn đúng như giả thuyết mà tôi đã đề ra. Nhưng để đảm bảo tính khách quan và tính quy luật, tôi đã phải tiến hành nhiều lần thí nghiệm trên nhiều bệnh nhân khác nhau (về sau này tôi còn yêu cầu các cộng tác viên và học viên của tôi lập lại nhiều lần thí nghiệm ấy để kiểm tra lý thuyết nêu trên. Và tất cả đều xác nhận tính đúng đắn xác thực của nó).

Để cho dễ hiểu lý thuyết này, tôi có thể nói “thay vì lấy điểm đau làm huyệt” như trường hợp A thị huyệt của khoa châm cứu thì tôi lấy ĐIỂM KHÔNG ĐAU LÀM HUYỆT. Trên thực tế cách tìm huyệt của tôi, vốn được vận dụng một cách sáng tạo từ một nguyên lý trong Kinh Dịch và Nội Kinh, đã giúp tôi tìm được nhiều huyệt rất chính xác và có giá trị. Việc này đã đóng góp rất lớn trong việc xác định những vùng tương ứng trên MẶT với các phần khác của toàn cơ thể.

Lẽ dĩ nhiên quy tắc tìm huyệt vừa nêu trên là một trong nhiều cách tìm huyệt mà tôi đã nghiên cứu ra. Nhưng có thể nói đó là quy tắc tìm huyệt đầu tiên của tôi và phải nói nó rất lạ, khác xa với cách tìm huyệt đã biết xưa nay là kiểu lấy điểm đau làm huyệt, lấy điểm có điện trở thấp (đo bằng máy dò huyệt) … Điều đáng lưu ý là huyệt số 1 BQC nằm nơi đầu mũi là huyệt đầu tiên tôi khám phá ra bằng cách châm bằng kim theo thuyết BẤT THỐNG ĐIỂM vừa nêu trên.

Còn việc khám phá và vẽ ra các Đồ hình trên Mặt (và sau này trên toàn thân) tức là những vùng phản xạ được hệ thống hóa một cách nhất quán là do tôi vận dụng một trong những quy tắc cốt yếu và đồng thời cũng là quy tắc đầu tiên để khám phá và thiết lập Đồ hình. Đó là quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỰ (Correspondance en même forme). Phải nói chính nhờ quy tắc này mà tôi khám phá ra nhiều Đồ hình phản chiếu một cách rất dễ dàng và nhanh chóng.

Quy tắc này do đâu mà có ? – Thật ra ít ai có thể biết được rằng quy tắc này được gợi ý từ câu “ĐỒNG THANH TƯƠNG ỨNG, ĐỒNG KHÍ TƯƠNG CẦU” trong Kinh Dịch (chương Văn Ngôn, quẻ Kiền) (1). Trong câu này, tôi khám phá ra Điểm then chốt là chữ Đồng (tức là giống nhau hay tương tự nhau) nghĩa là hễ ĐỒNG là có LIÊN HỆ NHAU, TƯƠNG ỨNG NHAU. Từ đó tôi triển khai thêm một vế nữa, đó là ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỤ, nghĩa là cái giống nhau hay cái tương tự hình dạng nhau thì có liên hệ hay quy tụ lại với nhau (Quy tắc này về sau được tôi khái quát hóa thành THUYẾT ĐỒNG ỨNG với ý nghĩa rộng lớn bao quát trên nhiều lãnh vực hơn).

Chính quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỤ đã tham gia vào việc giúp tôi quyết định chọn giả thuyết đầu tiên trong việc thiết lập các Đồ hình phản chiếu trong FACY. Đó là giả thuyết SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG VỚI SỐNG LƯNG. Tôi nói quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỤ góp phần vào việc tạo nên giả thuyết vừa nêu là vì trước đó tôi có suy nghĩ về một nét đặc biệt trong ngôn ngữ học Việt Nam, đó là việc ghép cùng một chữ (đồng tự) vào những bộ phận hay vật khác nhau nhưng có hình dạng, tính chất, vai trò hay vị trí giống nhau hoặc tương tự nhau. Ví dụ như cổ tay, cổ chân, cổ họng, cổ gáy hoặc sống lưng, sống mũi, v.v… Điều này không thấy rõ nét lắm ở ngôn ngữ Anh, Pháp, Hoa … Phải chăng cổ nhân Việt Nam đã thấy được sự liên quan giữa những bộ phận kể trên cho nên đặt cùng một chữ, ngoài ra còn có những câu nói dung tục trong dân gian như “MỒM SAO NGAO VẬY” (tạm dịch ra Anh văn là : “LIKE MOUTH, LIKE VULVA” hoặc “TELLE BOUCHE, TELLE VULVE” trong Pháp văn) hoặc trong ngôn ngữ Pháp chữ LÈVRE là MÔI cũng dùng để chỉ tiểu và đại âm thần (Petite lèvre et grande lèvre) của bộ phận sinh dục nữ. Một lần nữa, Đông và Tây lại gặp nhau. Hay ĐA MI TẤT ĐA MAO (người có nhiều lông mày thường có nhiều lông ở bộ phận sinh dục – được hiểu ngầm), cũng diễn tả sự liên quan giữa những bộ phận của cơ thể có hình dạng tương tự nhau. Rồi trong lãnh vực Y học dân gian Việt Nam, tôi cũng thấy có nhiều bài thuốc được cấu tạo theo quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỰ.
Ví dụ: dùng tim heo chung với Thần sa, Châu sa để trị chứng hồi hộp tim, bao tử heo dồn với hột tiêu chưng cách thủy để trị bệnh đau bao tử do lạnh, hạt ké đầu ngựa dùng để trị sạn ké trong thận …
Chính những sự kiện này rải rác trong các lãnh vực thuộc Khoa học nhân văn, Khoa học tự nhiên hay Y học Dân gian đã khiến tôi suy nghĩ rất nhiều về mối quan hệ có tính quy luật giữa những sự vật ở lãnh vực hay bộ phận khác nhau mà trong đó NHỮNG LIÊN HỆ GIỮA NHỮNG CÁI GIỐNG NHAU HAY TƯƠNG TỰ NHAU LÀ MỘT QUAN HỆ CÓ TÍNH QUY LUẬT VÀ QUY LUẬT NÀY CÓ GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT (UNIVERSEL) CHỨ KHÔNG PHẢI CHỈ CHI PHỐI TRONG PHẠM VI HẸP (như Y học chẳng hạn).

Từ suy nghĩ này công tác với việc thấm nhuần tư tưởng NHẤT NGUYÊN LUẬN (Monisme) trong Triết học Đông phương được thể hiện bằng những câu như “Vạn vật đồng nhất thể”, “Nhân thân tiểu thiên địa”, “Thiên nhân hợp nhất” (Vạn vật cùng một thể – thân thể con người là một vũ trụ nhỏ – Trời và Người hợp làm một) … khiến tôi dễ dàng phát hiện ra một mối quan hệ giữa sống mũi và sống lưng cũng như dễ dàng chọn giả thuyết làm cột mốc đầu tiên. SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG HAY PHẢN CHIẾU SỐNG LƯNG để từ cơ sở này (sau khi đã xác định là đúng) phát triển thành Đồ Hình Dương (hình người đàn ông) ở giữa mặt và sống mũi là sống lưng, hai gờ mày là hai cánh tay, đỉnh đầu ở giữa trán (mặt úp xuống, hai đùi là vùng môi trên giới hạn bởi hai nếp nhăn mũi má, đầu gối ở 2 bên khoé miệng và bàn chân là ụ cằm … Điều này khá trùng hợp với nhận xét của người Pháp qua câu : LE NEZ C’EST L’HOMME.
Việc xác nhận giả thuyết SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG VỚI SỐNG LƯNG là đúng, xảy ra vào sáng ngày 26 tháng 03 năm 1980 trên bệnh nhân nghiện ma túy tên là Trần Văn Sáu tại trường Fatima, Bình Triệu. Như các trường hợp nghiện ma túy khác, bệnh nhân rất đau ở cột sống thắt lưng khi lên cơn nghiện ma túy. Thế mà chỉ sau hơn một phút kể từ khi tôi châm một mũi kim vào đầu mũi (ở chỗ cuối xương sụn mũi mà tôi ước tính là tương ứng với thắt lưng đang bị đau của bệnh nhân theo quy tắc CHÂM VÀO BẤT THỐNG ĐIỂM (điểm không đau) thì một sự kỳ diệu xảy ra là bệnh nhân giảm đau cột sống thắt lưng một cách rõ nét đến mức giảm đau nhiều hơn là hôm qua tôi châm vào điểm đốt sống thắt lưng ở đối vành tai theo Nhĩ châm (cũng châm vào điểm không đau) cũng để trị cơn đau cột sống thắt lưng của anh ta. Ngoài ra, còn có hiện tượng đặc biệt là có một đường dẫn truyền như kiến bò chạy từ nơi châm vòng qua đầu đến nơi đang đau ở cột sống thắt lưng ngay sau khi châm, nghĩa là điều này đã chứng minh được giả thuyết SỐNG MŨI TƯƠNG ỨNG VỚI SỐNG LƯNG) là chính xác.

Với kết quả nêu trên, được lập lại trên nhiều bệnh nhân khác nhau, tôi càng tin tưởng vào THUYẾT BẤT THỐNG ĐIỂM cũng như thuyết ĐỒNG ỨNG với hệ luận của nó là quy tắc ĐỒNG HÌNH TƯƠNG TỰ, do đó tôi lại sử dụng quy tắc trên vào việc tìm những huyệt và vùng tương ứng khác của cơ thể ở trên Mặt. Có thể các quy tắc này như chiếc đũa thần hay chiếc chìa khóa kỳ diệu giúp tôi mở được cánh cửa sinh học đầy kỳ bí trên cơ thể sống của con người một cách nhanh chóng. Thật vậy, từ những Đồ hình phản chiếu ở trên Mặt được khám phá và vẽ ra trong vòng 3 năm (từ năm 1980 đến 1983) với 22 hệ, cho đến những hệ thống Đồ hình phản chiếu trên DA ĐẦU được tìm ra năm 1988 và hệ thống phản chiếu CÁC BỘ PHẬN Ở TOÀN THÂN (năm 1989), kể cả hệ phản chiếu trên LOA TAI với nhiều Đồ hình khác nhau (tất nhiên là khác với Đồ hình Bào thai lộn ngược của BS Nogier) đều có sự đóng góp chủ yếu của thuyết ĐỒNG ỨNG.

Trong phương pháp DIỆN CHẨN FACY còn có nhiều thuyết khác, như thuyết PHẢN CHIẾU, ĐỐI XỨNG, GIAO THOA, BẤT THỐNG ĐIỂM, TAM GIÁC, NƯỚC CHẢY VỀ CHỖ TRŨNG … Tất cả đều góp phần vào việc xây dựng phương pháp. Nhưng có một điều cần được nhấn mạnh ở đây là hầu hết những thuyết nền tảng của phương pháp đều được gợi ý từ những lãnh vực ngoài Y học chính thống mặc dù trong việc kiến trúc toàn bộ phương pháp đều có sự góp mặt của ba dòng Y học.
Y học cổ truyền, Y học hiện đại và Y học dân gian. Đây có lẽ là nét đặc thù của phương pháp DIỆN CHẨN (FACY) so với các phương pháp tương tự khác đã có trên thế giới trước đây. Vì rõ ràng từ xuất phát điểm cho đến việc tiến hành xây dựng hệ thống lý thuyết không đi theo chiều dọc thẳng từ Y học xuống mà lại đi theo chiều ngang từ các ngành Khoa Học Nhân Văn như Triết học, Văn học, Ngôn ngữ học, Tướng học … Sau đó được bổ sung bằng các chất liệu khác như điều khiển học, Hình học, Trường sinh học, Vật lý học v.v…

Tóm lại, DIỆN CHẨN (FACY) không phải là một sản phẩm đơn thuần Y học mà là kết quả tổng hợp của nhiều ngành khác trong đó chủ yếu là văn hóa và triết học Đông phương (như Phật, Khổng, Lão, Thiền, Dịch học …) có thể nói là đứa con tinh thần của Văn hóa Việt Nam với tính TỔNG HỢP, CHIẾT TRUNG VÀ SÁNG TẠO NHUẦN NHUYỄN. Chúng tôi gọi nó là Y ĐẠO (I’TAO) hay là Y HỌC – VĂN HÓA – TRIẾT HỌC vì nó không dừng ở chỗ Y-thuật hay Y-đức, mà cái nó nhắm tới là không chỉ đem lại SỨC KHỎE CHO THÂN THỂ VÀ TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI MÀ CÒN GIÚP MỞ MANG TÂM TRÍ (MINH TRIẾT HƠN) RỒI THÔNG QUA VIỆC CHỮA BỆNH CHO MÌNH VÀ CHO NGƯỜI MÀ DẦN DẦN ĐẠT LÝ CỦA TRỜI ĐẤT VÌ CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ LÀ MỘT (THIÊN NHÂN HỢP NHẤT) CHO NÊN THẤU HIỂU MÌNH TẤT SẼ HIỂU CÁI LÝ CỦA TRỜI ĐẤT. Ngoài ra nó còn giúp mở rộng sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc với nhau (vì theo NHẤT NGUYÊN LUẬN, TẤT CẢ LÀ MỘT), đóng góp vào việc hình thành một nền văn hóa thế giới. Còn xét về mặt hình thức thì nó là tổng hợp của Phản xạ học, châm cứu và Xoa bóp. Tuy nhiên, có lẽ nó gần gũi với Phản xạ học nhiều hơn, nhưng là một Phản xạ học mới : PHẢN XẠ ĐA HỆ (nếu có thể gọi được như vậy để phân biệt với Phản xạ học cổ điển hay là PHẢN XẠ ĐƠN HỆ) hay còn gọi là PHẢN XẠ HỌC VIỆT NAM (Réflexologie vietnamienne). Đây cũng là một loại NHU Y (Médecine douce) hay Y HỌC TỰ NHIÊN (Médecine naturelle) vì KHÔNG DÙNG THUỐC CŨNG KHÔNG DÙNG KIM CHÂM MÀ CHỈ DÙNG MÀ CHỈ DÙNG TAY HAY DỤNG CỤ (như : cây lăn, cây cào, búa gõ, que dò, ngải cứu, máy xung điện). Nó cũng là một hình thức của Y TẾ CỘNG ĐỒNG (La Santé Commune) vì có thể phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng học và làm được một cách dễ dàng và an toàn nhất là trong phạm vi chăm sóc sức khỏe ban đầu.

GS.TSKH. Bùi Quốc Châu

(Khởi viết ngày 17 tháng 8 năm 1991)